I-ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ NĂM 2008:
1-Đặc điểm tình hình:
Năm 2008 là một năm rất đặc biêt vì nền kinh tế biến động theo hai hướng hoàn toàn trái chiều nhau. Tám tháng đầu năm thì giá nguyên nhiên vật liệu tăng cao, lạm phát phi mã, lãi suất tăng vọt, tỷ giá biến động mạnh, tình hình kinh tế vĩ mô hết sức khó khăn. Ngược lại 04 tháng cuối năm thì cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ lan rộng ra khắp thế giới; hầu hết các nền kinh tế lớn đều bước vào suy thoái, giá cả vật tư nguyên liệu liên tục giảm, đơn hàng thiếu, hàng hoá tồn kho, thiếu việc làm, thu nhập và đời sống người lao động khó khăn..
Những tác động của khủng hoảng đến Ngành dệt,may Việt nam:
- Mỹ ,châu Âu, Nhật bản là 3 thị trường chiến lược của ngành DMVN đều rơi vào khủng hoảng dẫn tới thu hẹp tiêu dùng, thu hẹp thị trường nhập khẩu. Trong Q4/08 đơn hàng từ Mỹ đã giảm khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước.
-Hàng hoá dư thừa của các nước sản xuất lớn như Trung quốc,Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh có xu thế lấn sang các thị trường trong khu vực, trong đó có cả thị trường Việt Nam.
2-Kết quả đã đạt được:
Tuy nhiên với nỗ lực không ngừng của toàn thể CBCNV trong Ngành dệt,may Việt Nam nên chúng ta vẫn đạt được mức tăng trưởng trên 18% so với cùng kỳ năm trước. Là quốc gia duy nhất có tăng trưởng xuất khẩu vào Mỹ ở mức 2 con số và đạt tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm trên 9,1 tỷ USD.
Với Tập đoàn Dệt-May Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng trên một số chỉ tiêu chủ yêu so với năm 2007: Giá trị SXCN tăng 11%; Tổng doanh thu tăng 10% ; Kim ngạch XK tăng 21% ; Sản xuất vải tăng 6% và sản phẩm may tăng 12%
II-MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NĂM 2009
Dự báo năm 2009 cũng sẽ là năm tiếp tục khó khăn cho các doanh nghiệp do ảnh hưởng nặng nề từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu chưa thấy điểm dừng cùng với sức ép cạnh tranh từ hàng dệt,may Trung Quốc do việc Chính phủ Mỹ bãi bỏ chế độ hạn ngạch cho Trung Quốc từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Với thị trường nội địa, các doanh nghiệp dệt,may cũng sẽ bắt đầu bị sức ép cạnh tranh mạnh do việc nước ta mở cửa thị trường bán lẻ từ 01.01.2009 cho các tập đoàn lớn trên thế giới theo lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
1. Mục tiêu năm 2009.
* Mục tiêu phấn đấu năm 2009 so với năm 2008: Xuất khẩu toàn ngành đạt từ 9.2 tỷ - 9.5 tỷ USD ;Giá trị SXCN tăng trưởng trên 6% ;Tổng doanh thu tăng 5%;Kim ngạch xuất khẩu tăng 5%;Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt trên 12%
* Chiến lược hành động:
- Tập trung vào nâng cao năng suất, kiện toàn bộ máy, thực hành tiết kiệm trong mọi lĩnh vực.
- Triển khai bằng các chương trình cụ thể 3 chương trình chiến lược theo Quyết định 36 của Thủ tướng Chính phủ.
- Rà soát, cân nhắc đánh giá từng dự án đầu tư, chỉ duy trì các dự án mang tính chiến lược phục vụ phát triển.
- Xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà trong doanh nghiệp. Tiếp nhận lao động các đơn vị phá sản về Tập đoàn
2. Các giải pháp chủ yếu:
2.1. Về tổ chức quản lý:
-Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức và mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn.
-Nâng cao chất lượng và xác định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm, quyền lợi của người đại diện phần vốn Nhà nước tại các công ty CP.
-Trong năm 2009, hoàn thành việc CPH tập đoàn theo hướng nâng cao vốn chủ sở hữu, tìm kiếm đối tác trong các thị trường trọng điểm.
2.2. Về nguồn nhân lực:
-Triển khai chương trình đào tạo nguồn nhân lực trong quyết định 36 của Thủ tướng CP và quyết định 39 của Bộ trưởng Bộ công thương.
-Đẩy mạnh đầu tư có chọn lọc cho các nhà trường, viện nghiên cứu của tập đoàn đưa các đơn vị này thực sự trở thành hạt nhân xây dựng năng lực cạnh tranh của tập đoàn thông qua sở hữu trí tuệ, công nghệ và nhân lực cấp cao.
2.3. Thị trường – thương hiệu
-Nâng cao chất lượng hoạt động XTTM và nghiên cứu thị trường nhằm mở rộng ra các thị trường phi truyền thống như Trung đông, Đông Âu, Châu Phi. Giảm rủi ro do quá phụ thuộc vào 1 vài thị trường, khách hàng
-Xây dựng chương trình 3 năm phát triển thương hiệu Vinatex, và triển khai thực hiện theo định hướng khung đã được phê duyệt, đảm bảo tính nhất quán, xuyên suốt trong hoạt động xây dựng thương hiệu.
2.4. Đầu tư phát triển
-Tập trung thực hiện các chương trình đầu tư thuộc 2 chương trình chiến lược là sản xuất vải xuất khẩu và trồng bông có tưới.
-Trong sản xuất, tập trung đầu tư theo hướng nâng cao năng suất, đưa các biện pháp quản lý, đo lường năng suất vào áp dụng. Triển khai rộng rãi mô hình sản xuất tinh gọn trong các DN, nhất là DN May
-Hoàn thành các chương trình đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường, tạo đủ điều kiện cho thực hiện chương trình đào tạo.
TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM